St.Stamford
International
Medical
icon-1.png

Minimally Invasive Treatment

KẾT NỐI TRÁI TIM - KẾT NỐI YÊU THƯƠNG

Hotline
098 1879 168

Ung thư đại tràng

Ung thư đại tràng là loại khối u ác tính nằm ở đại tràng, nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do chế độ ăn uống hằng ngày của chúng ta. Đa số bệnh nhân mắc bệnh từ 40 tuổi trở lên nhưng độ tuổi này đang dần trẻ hóa bởi những thực phẩm chứa nhiều hóa chất bảo quản đang được chúng ta tiêu thụ hằng ngày.

I. Khái quát về Ung thư đại tràng

Ung thư đại tràng

Ung thư đại tràng có những nguy hiểm gì?

Ung thư đại tràng uy hiếp nghiêm trọng đến sức khoẻ và tính mạng của con người, khi mắc phải ung thư đại tràng tức là đang có nhiều nguy hiểm. Do khoang ruột ở đường ruột trái khá hẹp, khi phân đi qua sẽ bị dính lại, hơn nữa ung thư ở vị trí này thường là ung thư dạng xâm lấn. Mà khoang ruột là vòng hẹp nên bệnh nhân ung thư đại tràng ở giai đoạn đầu thường có hiện tượng tắc ruột, lúc nặng còn xuất hiện hiện tượng tắc ruột cấp tính.

Mà đại tràng ở đường ruột bên phải thì khá rộng, phân đi qua đó sẽ loãng, hơn nữa vận chuyển máu ruột kết, nhiều hạch, khả năng hấp thu mạnh sẽ hấp thu những độc tố có trong phân. Tế bào trong khối u ác tính đại tràng đa số là ung thư mềm, rất dễ bị loét, hoạ tử, từ đó dẫn đến xuất huyết đường ruột gây viêm nhiễm. Về lâm sàng chủ yếu là triệu chứng trúng độc. khi nghiêm trọng có thể xuất hiện hiện tượng tắc ruột.

Do tế bào ung thư của ung thư đại tràng bị vỡ và mất máu, độc tố bị hấp thụ, từ đó dẫn đến bệnh nhân ung thư ruột xuất hiện các triệu chứng thiếu máu, sốt, mệt mỏi, gầy yếu và phù thũng toàn thân. Những nguy hiểm mà ung thư ruột đem đến cho bệnh nhân chủ yếu là thiếu máu, gầy yếu.

Ung thư đại tràng

II. Triệu chứng Ung thư đại tràng

Triệu chứng Ung thư đại tràng

Ung thư đại tràng có những triệu chứng nào?

1. Đi vệ sinh ra máu không đau

Triệu chứng chủ yếu của bệnh ung thư đại tràng là đi vệ sinh ra máu không đau, máu ra có màu hồng hoặc màu đỏ tươi, những triệu chứng này rất giống với trĩ nội giai đoạn đầu. Ở giai đoạn cuối màu thường có màu đỏ sẫm, thể hiện ở việc phân có lẫn máu và dịch nhầy hoặc phân có mủ.

2. Thói quen đi vệ sinh và hình dạng phân thay đổi

Thói quen đi vệ sinh thay đổi cũng là một trong những triệu chứng điển hình của ung thư ruột. Do các khối u ở trực tràng tiết ra một số chất dịch gây ra những kích thích lên đường ruột, khiến bệnh nhân ung thư ruột thường xuất hiện những triệu chứng như buồn đi vệ sinh nhiều lần, buồn đi vệ sinh nhưng không đi được hoặc không thể rặn ra được. Lúc này hình dạng phân cũng bị thay đổi, phân lỏng, dẹt hoặc có đường rãnh. Xuất hiện những tình trạng này, các bạn nên đến bệnh viện để tiến hành nội soi ngay, tránh để lỡ mất thời gian điều trị tốt nhất.

3. Đường ruột bị tắc

Do ung thư ruột xâm nhập vào phạm vi thành ruột khiến cho ruột bị thu hẹp lại, đặc biệt là đoạn nối giữa trực tràng và kết tràng xích ma, các tế bào ung thư làm hẹp thành ruột khiến cho đường ruột bị tắc. Mắc bệnh trong một thời gian dài, khiến cho những bệnh nhân ung thư ruột bị suy nhược toàn thân. Còn xuất hiện một số triệu chứng không rõ nguyên nhân như thiếu máu, sút cân, mệt mỏi, chán ăn.

Ngoài ra, những bệnh nhân bị ung thư ruột giai đoạn cuối còn bị xâm lấn sang những vùng xung quanh như bàng quang, tiền liệt tuyến. Từ đó gây ra các tình trạng như tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu khó. Các tế bào ung thư xâm lấn chèn ép lên các dây thần kinh ở thắt lưng và xương cùng, khiến cho người bệnh luôn xuất hiện tình trạng đau nhức lưng. Ung thư ruột có thể di căn ra những khu vực xa hơn như gan khiến gan phình to, trướng nước, vàng da thậm chí xảy ra tình trạng thay đổi quá trình trao đổi chất và mất khẩu vị của cơ thể. Xuất hiện những tình trạng trên, cần phải đến ngay bệnh viện để siêu âm, chụp CT hoặc kiểm tra MRI để tiến hành chuẩn đoán.

III. Chẩn đoán Ung thư đại tràng

Các triệu chứng của ung thư ruột giai đoạn đầu không rõ ràng, rất dễ bị người bệnh bỏ qua. Đôi khi các bác sỹ còn điều trị theo hướng bệnh “kiết lỵ”, “viêm ruột”… Một khi xuất hiện tình trạng ruột bị tắc nghẽn hoặc sờ thấy có các khối u ở vùng bụng thì ung thư ruột đã đi đến giai đoạn giữa. Vì vậy, việc chuẩn đoán ung thư ruột đóng vai trò cực kỳ quan trọng, việc chẩn đoán chính xác sẽ giúp chúng ta nâng cao hiệu quả điều trị.

Chẩn đoán Ung thư đại tràng

Có những phương pháp nào để chuẩn đoán ung thư ruột?

1. Xét nghiệm máu ẩn trong phân: các tế bào trong ung thư ruột khi phát triển thường thấm một lượng máu nhỏ, khi máu đi vào phân sẽ bị đào thải ra ngoài. Xét nghiệm máu ẩn trong phân có thể kiểm tra được thành phần trong đó, kiểm tra nhiều lần hoặc tiếp tục xét nghiệm máu ẩn trong phân mà cho kết quả dương tính, hiển thị đường tiêu hóa bị xuất huyết mãn tính thì cần phải kiểm tra thêm và cảnh giác đến việc có khối u trong đường ruột và dạ dày.

2. Kiểm tra trực tràng: bác sĩ sẽ đeo găng tay, bôi chất nhờn vào ngón trỏ và hậu môn, rồi cho ngón tay vào trong trực tràng để kiểm tra xem có khối u hay không.

3. Nội soi: Nội soi là thủ tục kiểm tra ung thư ruột quan trọng nhất, nếu có tình trạng đi vệ sinh ra máu hoặc thói quen đi vệ sinh thay đổi, nhưng kiểm tra trực tràng không phát hiện có điều gì bất thường, cần tiến hành nội soi đại tràng xích ma hoặc nội soi sợi ruột kết.

(1) Nội soi đại tràng xích ma: Dạng ống thẳng, dài nhất khoảng 30cm, kiểm tra rất thuận tiện, có thể kiểm tra một cách trực quan, thích hợp với việc kiểm tra tổn thương của các bộ phận bên dưới đại tràng xích ma.

(2) Nội soi sợi ruột kết: độ dài 120- 180cm, có thể uốn cong, có thể quan sát toàn bộ phần ruột kết, còn có thể tiến hành kiểm tra điện thiết, điện ngưng, sinh thiết, có thể phát hiện những tổn thương ở giai đoạn đầu. Hiện nay nếu khó để chuẩn đoán chính xác có thể chuyển sang phương pháp kiểm tra này. Vì vậy, nếu phát hiện hoặc nghi ngờ có các triệu chứng của ung thư ruột, cần phải nhanh chóng đến bệnh viện để kiểm tra, phát hiện sớm, điều trị sớm.

4. Chụp X- quang: Bao gồm kiểm tra cho uống sun-fát ba-ri và kiểm tra barium enema. Những bệnh nhân bị u ruột kết có thể dùng phương pháp kiểm tra barium enema. Khi phát hiện những tổn thương nhỏ còn có khả năng phun khí bari kép cho khoang ruột để tiến hành chụp ảnh so sánh, cho hiệu quả kiểm tra tốt hơn. Kiểm tra X - quang giúp chúng ta quan sát một cách toàn diện trạng thái của đường ruột, xem có sự hiện diện của các khối u và các tế bào ung thư đa phát không.

5. Siêu âm, chụp CT hoặc kiểm tra MRI: Những phương pháp kiểm tra này không thể trực tiếp chuẩn đoán ung thư ruột nhưng có thể xác định được vị trí, kích thước và các tổ chức xung quanh khối u, có giá trị nhất định trong việc phán đoán có di căn hạch và gan hay không, giúp bác sỹ đưa ra phương pháp điều trị tốt nhất cho người bệnh.

6. CEA: Xác định kháng nguyên carcinoembryonic (CEA) là phương pháp được sử dụng phổ biến, là một trong những bước quan trọng nhất của quá trình kiểm tra ung thư trực tràng. Thông thường có giá trị trong việc đánh giá hiệu quả của việc điều trị và tiên lượng bệnh. Liên tục đo mức CEA trong huyết thanh có thể quan sát được hiệu quả của phẫu thuật và hóa trị.

IV. Điều trị Ung thư đại tràng

Điều trị Ung thư đại tràng

Phương pháp điều trị ung thư đại tràng

1. Phẫu thuật: phẫu thuật là phương pháp điều trị ung thư đại tràng thường gặp, thông thường khi phát hiện ở giai đoạn đầu thường dùng phương pháp điều trị là phẫu thuật cắt bỏ khối u. Trong đó bao gồm: phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn, phẫu thuật cắt bỏ cục bộ khối u, phẫu thuật cắt bỏ tạm thời, phẫu thuật cắt bỏ theo đoạn và phẫu thuật cắt bỏ các nội tạng liên quan. Nhưng sau khi điều trị ung thư đại tràng bằng phẫu thuật thì thường sót lại những tế bào ung thư nên dễ dẫn đến tái phát.

2. Xạ trị: xạ trị được biết đến như là phương pháp hỗ trợ điều trị sau phẫu thuật, có thể làm giảm tỷ lệ tái phát của ung thư đại tràng.

3. Hoá chất trị liệu: sau khi điều trị bằng phẫu thuật, dùng hoá chất để tiến hành điều trị các ổ bệnh còn sót lại, có thể tránh được sự tái phát và lây lan của tế bào ung thư, nhưng trong quá trình điều trị bằng hoá chất sẽ có một số tác dụng phụ không mong muốn.

Điều trị ung thư ruột bằng kỹ thuật xâm nhập tối thiểu

1. Liệu pháp miễn dịch sinh học: liệu pháp miễn dịch sinh học có các ưu điểm như không làm tổn thương đến cơ thể, không đau và không cần nhập viện, có thể làm giảm các tác dụng phụ cho bệnh nhân ung thư ruột do hoá trị và xạ trị đem lại, và còn có thể nâng cao khả năng miễn dịch và chất lượng sống cho bệnh nhân, và phương pháp này phù hợp với tất cả các bệnh ung thư khác.

2. Điều trị bằng Đông y: điều trị ung thư ruột bằng Đông y có thể cải thiện các triệu chứng, nâng cao sức đề kháng cho bệnh nhân, làm giảm các tác dụng phụ của hoá trị và xạ trị, nâng cao hiệu quả điều trị ung thư ruột.

3. Liệu pháp gene trúng đích: liệu pháp gene trúng đích có thể dựa vào sự khác biệt của các khối u để đưa ra các loại thuốc điều trị tương ứng, sau khi thuốc vào trong cơ thể bệnh nhân sẽ tự động đi đến vị trí tế bào ung thư và phát huy tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư mà không ảnh hưởng đến các tổ chức khoẻ mạnh xung quanh khối u. So với các phương pháp điều trị truyền thống, thì liệu pháp điều trị gen trúng đích chính xác và hiệu quả điều trị tốt hơn và an toàn hơn.

V. Giai đoạn Ung thư và Di căn

Phân chia giai đoạn ung thư đại tràng

Các giai đoạn của một ung thư được đánh giá qua các thông tin là khối ung thư đó đã lớn như thế nào và nó đã lan rộng, xâm lấn tới đâu. Các xét nghiệm của bạn có khi chẩn đoán ung thư của bạn cung cấp một số thông tin này. Điều quan trọng là bởi vì điều trị thường dựa trên các giai đoạn của một ung thư.

Giai đoạn Ung thư đại tràng

Ung thư đại trực tràng được chia làm 5 giai đoạn

Giai đoạn 0: những tế bào bất thường được tìm thấy trong lớp niêm mạc của thành ruột. Những tế bào bất thường này có thể hóa ác và di căn. Giai đoạn 0 còn được gọi là carcinoma in situ

Giai đoạn I: Khối u đã hình thành trong lớp niêm mạc của ruột và đã lan xuống lớp dưới niêm. Ung thư có thể đã lan đến lớp cơ của thành ruột…

Giai đoạn IIA: Ung thư đã lan qua lớp cơ của thành ruột đến lớp thanh mạc của thành ruột

Giai đoạn IIB: Ung thư đã lan qua lớp thanh mạc của thành ruột nhưng chưa xâm lấn vào cơ quan kế cận

Giai đoạn IIC: Ung thư đã xâm lấn qua lớp thanh mạc của thành ruột vào cơ quan lân cận

Giai đoạn IIIA: Ung thư có thể đã xâm lấn qua lớp niêm mạc của thành ruột đến lớp dưới niêm và có thể đã đến lớp cơ của thành ruột. Tế bào ung thư đã di căn đến ít nhất một, nhưng không nhiều hơn 3 hạch bạch huyết lân cận hoặc tế bào hung thư đã hình thành tại mô gần các hạch bạch huyết hoặc ung thư đã lan qua lớp niêm mạc đến lớp dưới niêm. Ung thư đã di căn tới ít nhất 4 nhưng không nhiều hơn 6 hạch bạch huyết lân cận

Giai đoạn IIIB:

- Ung thư đã lan qua lớp cơ của thành ruột đến lớp thanh mạc hoặc đã lan qua lớp thanh mạc nhưng chưa vào cơ quan gần đó. Ung thư đã di căn đến ít nhất một nhưng không nhiều hơn 3 hạch bạch huyết lân cận hoặc tế bào ung thư đã hình thành trong mô gần các hạch bạch huyết.

- Ung thư đã lan đến lớp cơ của thành ruột hoặc đến thanh mạc của thành ruột. Ung thư đã di căn đến ít nhất 4 nhưng không nhiều hơn 4 hạch bạch huyết lân cận.

- Ung thư đã di căn qua lớp niêm mạc đến lớp dưới niêm và có thể đã lan đến lớp cơ của thành ruột. Ung thư đã di căn đến 7 hạch bạch huyết hoặc nhiều hơn.

Giai đoạn IIIC: Ung thư đã lan qua lớp thanh mạc của thành ruột nhưng chưa di căn đến cơ quan gần đó. Ung thư đã di căn vào ít nhất 4 nhưng không nhiều hơn 6 hạch bạch huyết gần đó hoặc ung thư đã di căn qua lớp cơ của thành ruột đến lớp thanh mạc của thành ruột hoặc đã lan tới cơ quan lân cận. Ung thư đã di căn đến một hạch bạch huyết hoặc nhiều hơn, hoặc tế bào ung thư đã hình thành trong mô gần các hạch bạch huyết

Giai đoạn IVA: Ung thư có thể đã xâm lấn qua thành ruột và di căn vào cơ quan lân cận hoặc hạch vùng. Ung thư đã xâm lấn vào một cơ quan xa, như gan, phổi, hoặc buồng trứng hoặc đến hạch bạch huyết xa

Giai đoạn IVB: Ung thư có thể đã xâm lấn qua thành ruột và có thể đã di căn đến cơ quan hay hạch bạch huyết lân cận. Ung thư đã di căn vào một hoặc nhiều hơn cơ quan xa hoặc ào thành bụng.

Tái phát: Đây là ung thư đã được điều trị và tái phát trở lại sau một khoảng thời gian khi ung thư không thể được phát hiện. Bệnh có thể tái phát trở lại trong đại tràng hay trực tràng, hoặc trong một bộ phận khác của cơ thể.

Tiên lượng sống: Ung thư đại tràng là bệnh có tiên lượng khá tốt, hoàn toàn có thể chữa khỏi bệnh nếu phát hiện sớm. Hơn 90% bệnh nhân có cơ hội sống sau 5 năm nếu phát hiện bệnh ở giai đoạn đầu.

Giai đoạn 1Ung thư đại tràng được gọi là Dukes ‘A. Giai đoạn I được xem là giai đoạn rất sớm của bệnh và có tỷ lệ chữa khỏi cao. Sau phẫu thuật, 94% số bệnh nhân sẽ sống được sau 5 năm.

Giai đoạn 2Ung thư đại tràng được gọi là Dukes ‘B. Khoảng một phần tư (24%) số người bị ung thư đại tràng được chẩn đoán ở giai đoạn này. Tùy thuộc vào các yếu tố khác nhau, sau khi phẫu thuật, hơn ba phần tư (lên đến 82%) người bệnh ung thư đại tràng giai đoạn 2 có thể sống trên 5 năm…

Giai đoạn 3: Ung thư đại tràng cũng được gọi là Dukes ‘C. Khoảng 23% số người bệnh được chẩn đoán ở giai đoạn này. Tiên lượng phụ thuộc vào số lượng các hạch bạch huyết có chứa tế bào ung thư. Sau khi phẫu thuật gần một nửa người bệnh (67%) sẽ sống ít nhất 5 năm.

Giai đoạn 4: Ung thư đại tràng cũng được gọi là Dukes ‘D. Khoảng 9% số người mắc ung thư đại tràng đã lan sang các cơ quan khác tại thời điểm chẩn đoán. Đối với ung thư giai đoạn này, tỷ lệ sống thấp, chỉ có khoảng 11% số người bệnh sẽ sống ít nhất 5 năm sau khi được chẩn đoán. Tuy nhiên, nếu ung thư đã di căn vào gan và các khu vực trong gan có thể được loại bỏ bằng phẫu thuật, theo một số nghiên cứu tỷ lệ sống 5 năm vào khoảng 25-40%.

Alo bác sĩ

098 1879 168

Đặt lịch hẹn

Bác sĩ tư vấn